0

Hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam đang tăng tốc mạnh mẽ, với kim ngạch vượt mốc 1 tỷ USD trong tháng thứ hai liên tiếp, trong bối cảnh ngành hàng sầu riêng đang bùng nổ và hướng tới mục tiêu đạt doanh thu 4 tỷ USD trong năm nay.

Dẫn số liệu từ cơ quan hải quan, Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT) cho biết kim ngạch xuất khẩu đã đạt khoảng 1,1 tỷ USD tính đến ngày 18/8/2026, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp Việt Nam đã thu về gần 5,87 tỷ USD từ xuất khẩu rau quả, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng thư ký VINAFRUIT, cho rằng phần lớn mức tăng trưởng này đến từ sầu riêng, khi khu vực Tây Nguyên đang bước vào vụ thu hoạch cao điểm. Riêng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng trong 7 tháng đầu năm ước đạt khoảng 1,8 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu duy trì tốc độ hiện tại, doanh thu xuất khẩu sầu riêng cả năm có thể đạt mốc 4 tỷ USD. Ông Mười nhận định việc kim ngạch xuất khẩu rau quả vượt mốc 1 tỷ USD ngay trong tháng 8 là tín hiệu đáng mừng cho ngành. Năm ngoái, ngành này phải đến tháng 9 mới đạt được mốc 1 tỷ USD/tháng. Tháng 8 cũng đánh dấu tháng thứ hai liên tiếp xuất khẩu rau quả Việt Nam vượt mốc 1 tỷ USD. Với đà tăng trưởng hiện tại, VINAFRUIT kỳ vọng ngành rau quả Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD. Tuy nhiên, ông Mười lưu ý rằng để đạt được mục tiêu đó, cần giải quyết một số vấn đề có thể kìm hãm đà tăng trưởng xuất khẩu.

Cần đặc biệt chú trọng đến chất lượng và an toàn sản phẩm, cũng như các quy định về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và khả năng truy xuất nguồn gốc đối với hàng xuất khẩu. Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính phủ, các doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm kiếm thị trường mới, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm tại các thị trường truyền thống và trọng điểm. Ông Mười cho biết, đặc biệt là Trung Quốc vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng, khi trái cây và rau quả Việt Nam mới chỉ hiện diện hạn chế tại một số thị trường nội địa lớn của nước này. “Ví dụ, tại Trung Quốc vẫn còn những thị trường nội địa như Bắc Kinh và Trùng Khánh, nơi các sản phẩm rau quả của Việt Nam hiện diện còn khá hạn chế. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp đẩy mạnh thâm nhập thị trường,” ông cho biết.

Sự bùng nổ của ngành sầu riêng Việt Nam mang lại cơ hội nhưng cũng dấy lên lo ngại về tình trạng dư cung

Việc Trung Quốc cấp thêm các mã số mới hứa hẹn mở ra cơ hội lớn hơn cho người trồng sầu riêng tại Đắk Lắk, tuy nhiên các cơ quan chức năng cảnh báo rằng sản lượng tăng mạnh hiện nay cần phải đi đôi với việc chú trọng chất lượng. Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã phê duyệt 140 mã số vùng trồng và 31 mã số cơ sở đóng gói cho sầu riêng Đắk Lắk, đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với một trong những ngành nông nghiệp tỷ đô của tỉnh này. Vào ngày 20/8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn chia sẻ với VietNamNet rằng GACC đã phê duyệt gần 200 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói cho ngành sầu riêng của tỉnh. Cụ thể, GACC đã cấp 140 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 14.321 ha và 31 mã số cơ sở đóng gói với diện tích 91.135 m2, đạt tổng công suất 5.470 tấn mỗi ngày.

Để đảm bảo hoạt động xuất khẩu trái cây sang Trung Quốc diễn ra thuận lợi, bền vững và giữ gìn uy tín nông sản Việt Nam, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đắk Lắk thông báo chính thức tới các vùng trồng và cơ sở đóng gói đã được GACC cấp mã số, đồng thời đảm bảo công tác quản lý và giám sát được thực hiện đúng quy định. Cơ quan chức năng cũng yêu cầu các cơ sở được phê duyệt phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Việt Nam và các yêu cầu từ thị trường nhập khẩu. Các lô hàng xuất khẩu cần được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi vận chuyển để đảm bảo không nhiễm các loại dịch hại thuộc danh mục kiểm dịch thực vật mà phía Trung Quốc quan tâm, cũng như đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiểm dịch và an toàn thực phẩm. Các bên liên quan cũng phải tuân thủ nghiêm túc Nghị định số 38/2026/ND-CP, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP và các yêu cầu do nước nhập khẩu quy định.

Theo ông Văn, việc phê duyệt gần 200 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói vào thời điểm này của mùa vụ sẽ mang lại sự hỗ trợ đáng kể cho người trồng và các doanh nghiệp kinh doanh sầu riêng trong vụ thu hoạch năm 2026. Đắk Lắk hiện có khoảng 45.000 ha sầu riêng cho vụ mùa năm 2026, với sản lượng ước tính đạt khoảng 500.000 tấn.

Mở rộng diện tích trồng sầu riêng nhanh làm dấy lên lo ngại dư cung

Động thái phê duyệt này diễn ra trong bối cảnh các cơ quan chức năng ngành nông nghiệp cảnh báo rằng ngành sầu riêng Việt Nam đang mở rộng với tốc độ cực nhanh, tạo ra nhiều thách thức về sản xuất, kiểm soát chất lượng và tính bền vững của thị trường. Sầu riêng đã trở thành mặt hàng xuất khẩu tỷ đô của Việt Nam vào năm 2023. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt 3,86 tỷ USD, chiếm hơn 45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước. Chỉ riêng trong tháng 7/2026, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng ước tính đạt 600-700 triệu USD, nâng tổng kim ngạch trong 7 tháng đầu năm lên khoảng 1,85 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm trước.

Tại hội thảo về tháo gỡ khó khăn và xây dựng chuỗi xuất khẩu sầu riêng bền vững do báo Tiền Phong tổ chức ngày 20/8, ông Vũ Duy Hải, Tổng Giám đốc Tập đoàn Vinacam, đã nêu bật hàng loạt vấn đề cần được giải quyết. Trong đó, ông Hải đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề quản lý hàm lượng cadmium. Ông cho biết, trước khi Văn phòng SPS Việt Nam đưa ra cảnh báo vào năm 2022 và trước khi một số lô hàng sầu riêng bị từ chối nhập khẩu, vấn đề cadmium và nguy cơ tồn dư chất này từ phân bón chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ông nhắc lại sự kiện một số lô hàng sầu riêng từng bị phía Trung Quốc từ chối nhập khẩu, dẫn đến việc người tiêu dùng trong nước được kêu gọi chung tay "giải cứu" loại trái cây này. Theo ông, sự việc này cho thấy sự thiếu hụt nhận thức chung về các rủi ro liên quan đến cadmium cũng như sự thiếu vắng các cảnh báo đầy đủ. Do cadmium có thể tồn tại trong một số loại phân bón chứa lân và có nguy cơ bị cây trồng hấp thụ, Vinacam cho rằng việc kiểm soát cần được thực hiện ngay từ khâu vật tư đầu vào. Ông Hải cũng bày tỏ lo ngại về chất có tên gọi "Yellow O" (Vàng O) – một loại hóa chất từng được một số nhà vườn sử dụng trong khâu xử lý sau thu hoạch nhằm kéo dài thời gian bảo quản và giúp cơm sầu riêng có màu vàng đều, bắt mắt hơn.

Tuy nhiên, khi nảy sinh lo ngại về các rủi ro sức khỏe tiềm ẩn, việc thiếu các giải pháp thay thế an toàn có thể khiến người trồng tìm đến những phương án khác không được kiểm soát, từ đó tạo ra thêm các rủi ro mới. Do đó, ông kêu gọi các cơ quan chuyên môn nhanh chóng nghiên cứu, phê duyệt và phổ biến các giải pháp thay thế an toàn, dù là sinh học hay hóa học. Các cơ quan quản lý cũng cần chuẩn bị cho khả năng các thị trường nhập khẩu siết chặt giới hạn đối với clo, asen và các chất có hại tiềm tàng khác.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho biết chất lượng sản phẩm, năng lực kiểm nghiệm, mã vùng trồng, khả năng truy xuất nguồn gốc và thủ tục hải quan vẫn là những nút thắt lớn đối với ngành sầu riêng. Nếu không sớm giải quyết các vấn đề này, doanh nghiệp xuất khẩu và người trồng sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro đáng kể. Ông Bình cho rằng việc kiểm soát chất lượng cần bắt đầu ngay từ khâu vật tư đầu vào, vùng trồng và quá trình sản xuất, thay vì để đến giai đoạn thu hoạch hoặc ngay trước khi xuất khẩu mới thực hiện. Hiện nay, doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro lớn do có thể đã thu mua trái cây, thanh toán cho nông dân và đóng hàng vào container trước khi có kết quả kiểm nghiệm. Nếu sau đó sản phẩm không đạt chuẩn, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải gánh chịu toàn bộ chi phí. Ông đề xuất Việt Nam có thể tham khảo cách làm của Thái Lan, nơi cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ lịch trình thu hoạch, nông dân và vùng trồng, và chỉ những vùng đạt yêu cầu mới được phép thu hoạch. Một hệ thống như vậy có thể giúp giảm thiểu rủi ro và củng cố niềm tin trong toàn bộ chuỗi cung ứng xuất khẩu.

Trong khi đó, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Vina T&T Group, cho rằng cần đánh giá kỹ lưỡng những lo ngại về hàm lượng cadmium trong sầu riêng dựa trên từng vùng trồng và từng trường hợp cụ thể. Xuất khẩu trái cây tươi, đặc biệt là sầu riêng, tiềm ẩn nhiều rủi ro do doanh nghiệp hầu như không có thời gian xoay xở khi sự cố xảy ra. Chỉ cần một sự gián đoạn trong khâu kiểm tra, logistics hoặc thông quan cũng có thể khiến hàng trăm container hàng phải quay đầu, trong khi sầu riêng tươi vẫn tiếp tục chín và không thể bảo quản lâu dài. Vì vậy, ông Tùng kêu gọi tăng cường đầu tư vào công nghệ chế biến, đặc biệt là công nghệ cấp đông, nhằm kéo dài thời hạn sử dụng và giảm thiểu rủi ro xuất khẩu. Ông cho biết, trước những khó khăn trong khâu kiểm nghiệm gần đây, hoạt động xuất khẩu sầu riêng đông lạnh đang ngày càng hướng mạnh sang các thị trường như châu Âu, Mỹ và các khu vực khác. Nếu không có đủ năng lực cấp đông, ngành hàng này vẫn sẽ rất dễ bị tổn thương trước các sự cố bất ngờ; do đó, các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này ngày càng trở nên quan trọng.

Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nhận định sầu riêng là loại cây trồng quan trọng đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tốc độ phát triển này nhanh đến mức có thể coi là "quá nóng", dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý, sản xuất và tiêu thụ. Một thách thức cấp bách là duy trì việc kiểm soát chất lượng khi diện tích canh tác tăng mạnh. Tại một số địa phương, sầu riêng còn được trồng ở những vùng không phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất. "Có những nơi dù không được khuyến nghị trồng sầu riêng nhưng diện tích vẫn bị mở rộng, và chúng ta đã phải trả giá cho điều đó," ông Mạnh chia sẻ.

Việc mở rộng nhanh chóng cũng gây khó khăn cho công tác quản lý chất lượng cây giống, kiểm soát dịch hại trên các vùng sản xuất rộng lớn, cũng như việc cấp, quản lý và sử dụng mã vùng trồng theo yêu cầu của các nước nhập khẩu. Diện tích và sản lượng sầu riêng của Việt Nam đã tăng mạnh trong khoảng 5 năm qua và về cơ bản đã đạt quy mô sản xuất đủ lớn. Tuy nhiên, cùng lúc đó, các quốc gia khác cũng đang nhanh chóng phát triển ngành sầu riêng của họ. Ông Mạnh cảnh báo rằng nếu Việt Nam tiếp tục gia tăng diện tích và sản lượng với tốc độ như thời gian qua, ngành hàng này có thể sẽ đối mặt với nguy cơ khủng hoảng thừa nguồn cung. Thay vì tiếp tục mở rộng nhanh chóng, ông cho rằng ngành cần ưu tiên quản lý chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm và nghiên cứu các giống sầu riêng mới có chất lượng cao hơn.

Theo VNS

 

Admin

Vụ bê bối sầu riêng Việt Nam: 21 người bị khởi tố, Thứ trưởng bị bắt

Bài trước

Xuất khẩu sầu riêng tăng mạnh nhưng giá lại giảm

Bài sau

Bài viết tương tự

Bình luận

Trả lời bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường * là bắt buộc

Xem thêm Rau quả