Rau quả

Ngành sầu riêng Việt Nam chuyển dịch từ chú trọng sản lượng sang gia tăng giá trị

0

Từ nông sản thô thành hàng hóa giá trị cao

Ngành sầu riêng Việt Nam đã hình thành các vùng sản xuất tập trung và khẳng định được vị thế trên thị trường toàn cầu. Lợi thế về quỹ đất, nguồn lực nông dân và doanh nghiệp tạo dư địa lớn để gia tăng giá trị thông qua công nghệ bảo quản, chế biến sâu, logistics và mở rộng thị trường.

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về diện tích canh tác và sản lượng đang gây áp lực lên mô hình hiện tại. Đắk Lắk – địa phương chiếm khoảng 22% diện tích sầu riêng cả nước – hiện có khoảng 44.000 ha, với gần 30.000 ha đang cho thu hoạch. Sản lượng dự kiến ​​năm 2026 sẽ đạt mức kỷ lục khoảng 500.000 tấn. Cơ sở hạ tầng chuỗi cung ứng lạnh vẫn chưa hoàn thiện, trong khi khâu bảo quản sau thu hoạch và chế biến sâu còn hạn chế. Sản xuất vẫn còn manh mún, các liên kết trong chuỗi giá trị còn lỏng lẻo, còn công tác kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng.

Chuẩn hóa để nâng cao năng lực cạnh tranh

Hệ thống quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc toàn diện là yêu cầu cốt lõi, đồng thời là ưu tiên của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ đã chính thức vận hành từ ngày 1/7/2026. Tính đến nay, dữ liệu về 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng hàng của 19 doanh nghiệp đã được cập nhật, cùng với báo cáo tiến độ từ 24 trong số 34 tỉnh, thành phố. Tổng cộng, hệ thống đang lưu trữ dữ liệu của 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng hàng, với sự tham gia của 200 doanh nghiệp cùng 2.948 hộ nông dân và hợp tác xã. Bộ đã xác định sầu riêng là mặt hàng ưu tiên áp dụng truy xuất nguồn gốc theo chuỗi, kết nối chặt chẽ giữa mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, khâu kiểm nghiệm, kiểm dịch và các lô hàng xuất khẩu. Bộ đang hoàn thiện các tiêu chuẩn dữ liệu, API, quy trình kết nối và khả năng tương tác với các hệ thống quốc gia, nhằm tạo nền tảng cho nguyên tắc "dữ liệu tạo lập một lần và sử dụng nhiều lần".

Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với cả thị trường nội địa và xuất khẩu, trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu khắt khe về kiểm soát nguồn gốc, chất lượng và an toàn thực phẩm.

Đắk Lắk hướng tới xây dựng hệ sinh thái sầu riêng

Là địa phương sản xuất hàng đầu, Đắk Lắk đang chuyển hướng từ việc mở rộng diện tích sang nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.

Ngày 20/8, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã phê duyệt thêm 140 mã số vùng trồng sầu riêng tại Đắk Lắk với diện tích hơn 4.321 ha, cùng 31 cơ sở đóng gói có tổng diện tích hơn 91.000 m2 và công suất khoảng 5.470 tấn/ngày. Việc phê duyệt này tạo thêm cơ hội để tỉnh tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng xuất khẩu chính ngạch. Theo Cục Bảo vệ thực vật (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), các vùng trồng và cơ sở đóng gói đã đăng ký phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Việt Nam cũng như nước nhập khẩu. Các lô hàng xuất khẩu bắt buộc phải trải qua kiểm tra về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm trước khi vận chuyển. Những yêu cầu này đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ chất lượng và uy tín của sầu riêng Việt Nam. Hiện nay, Đắk Lắk có khoảng 41.000 ha sầu riêng; vụ thu hoạch thứ 6 dự kiến ​​đạt sản lượng gần 500.000 tấn. Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của tỉnh trong năm 2025 ước tính đạt 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, các mã số vùng trồng mới được phê duyệt chỉ chiếm khoảng 17-28% tổng diện tích trồng sầu riêng của tỉnh, cho thấy dư địa lớn để mở rộng sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.

Để nâng cao giá trị, các chuyên gia khuyến nghị Đắk Lắk cần tiếp tục phát triển các vùng trồng đạt chuẩn quốc tế, mở rộng mã số vùng trồng, quản lý chặt chẽ lịch thời vụ, tăng cường kiểm soát chất lượng, nghiên cứu các giống cây thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời đẩy mạnh công nghệ bảo quản và chế biến sâu. Bên cạnh thị trường Trung Quốc, tỉnh cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, gia tăng tỷ trọng các sản phẩm đông lạnh và chế biến sâu, cũng như nâng cao năng lực cung ứng cho các thị trường cao cấp.

Một hướng đi khác là gia tăng giá trị từ các sản phẩm sầu riêng. Bà Nguyễn Thị Thành Thực, Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng ngành hàng này không nên chỉ phụ thuộc vào trái cây tươi. Cần phát triển các sản phẩm múi sầu riêng đông lạnh và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm, đồng thời tận dụng hiệu quả hơn các phụ phẩm.

Ở cấp độ địa phương, Đắk Lắk sẽ không chạy theo sản lượng bằng mọi giá. Tỉnh đang chuyển đổi tư duy từ "sản xuất nông nghiệp" sang tiếp cận theo hướng "kinh tế nông nghiệp", chuyển từ việc chỉ bán sản phẩm sang xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu. Tỉnh sẽ siết chặt công tác quản lý vùng trồng và kiểm soát chất lượng; thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất; đồng thời khuyến khích đầu tư vào chế biến sâu, cấp đông, kho lạnh, các trung tâm đóng gói và dịch vụ logistics.

Từ vùng Tây Nguyên với thổ nhưỡng đất đỏ bazan màu mỡ vươn ra thị trường quốc tế, sầu riêng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để gia tăng giá trị. Việc đồng bộ hóa các khâu từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chế biến đến logistics sẽ giúp ngành hàng chuyển dịch từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang phát triển dựa trên chất lượng, giá trị và uy tín. Với sự hỗ trợ từ các bộ, ngành, chính quyền địa phương, giới khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất, ngành sầu riêng Việt Nam đang xây dựng nền tảng vững chắc hơn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu.

Theo VNA

 

Admin

1 tỷ người Trung Quốc vẫn chưa từng thưởng thức sầu riêng, ngành sầu riêng Việt Nam vẫn đứng trước triển vọng lớn

Bài trước

Xuất khẩu trái cây Việt Nam vượt mốc 1 tỷ USD tháng thứ hai liên tiếp

Bài sau

Bài viết tương tự

Bình luận

Trả lời bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường * là bắt buộc

Xem thêm Rau quả