Gỗ

Xuất khẩu gỗ Việt Nam tăng đột biến trong quý 1/2024

0

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong quý I năm nay tăng 18,9% đạt 3,4 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ riêng tháng 3 chứng kiến xuất khẩu gỗ tăng 46,3% lên 1,12 tỷ USD so với tháng 2, nhưng giảm 1,9% so với tháng 3/2023.

Với sự gia tăng đơn đặt hàng xuất khẩu trong những tháng đầu năm, ngành gỗ năm nay có triển vọng tích cực. Đặc biệt, nhu cầu sản phẩm gỗ tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Canada, Anh và các thị trường tại EU đã phục hồi, qua đó mở ra triển vọng xuất khẩu tươi sáng sang các thị trường này trong thời gian tới. Xét về cơ cấu thị trường xuất khẩu, Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất các sản phẩm gỗ của Việt Nam. Trong 2 tháng, xuất khẩu gỗ sang Mỹ chiếm 53,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, đạt 1,2 tỷ USD và tăng 51,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Cùng với thị trường Mỹ, xuất khẩu tăng trưởng mạnh được ghi nhận ở một số thị trường khác, trong đó có Trung Quốc với kim ngạch đạt 306,3 triệu USD, tăng 25,3%; Canada với 36 triệu USD, tăng 47,4%; Anh với 32,8 triệu USD, tăng 35,2%; Hà Lan với 23,2 triệu USD, tăng 46,9%; và Pháp với 22,1 triệu USD, tăng 26,7%.

Bất chấp những dấu hiệu lạc quan, các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ đang phải đối mặt với những khó khăn mới do căng thẳng leo thang xảy ra ở Biển Đỏ cùng với giá cước vận tải tăng cao. Hơn nữa, ngành gỗ còn phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ khác và rủi ro gian lận thương mại. Đặc biệt, các đối tác quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về truy xuất nguồn gốc gỗ, sản xuất bền vững và giảm phát thải carbon. Các chuyên gia chỉ ra rằng sự phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ đã làm tăng rủi ro cho ngành gỗ, đồng thời lưu ý rằng các công ty trong nước nên đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm giảm thiểu những rủi ro này và tăng cường tính bền vững của ngành, cũng như cải thiện thiết kế sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thị trường. thu hút nhiều khách hàng quốc tế hơn.

Viên nén gỗ có nhiều tiềm năng sản xuất phát thải thấp

Việt Nam có nhiều tiềm năng để chuyển đổi hệ thống sản xuất từ nhiên liệu phát thải cao như than sang viên gỗ, giảm khí thải trên quy mô quốc gia, theo thông tin tại một cuộc hội thảo tại Hà Nội gần đây. Được tổ chức bởi Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hiệp hội Khoa học và Công nghệ Nhiệt Việt Nam và Forest Trends, hội thảo nhằm khuyến khích các cơ sở sản xuất nhỏ sử dụng tua bin hơi nước chuyển đổi hệ thống của họ từ các nguồn nhiên liệu phát thải cao như than và dầu sang phát thải thấp như viên nén gỗ. Tua bin hơi nước được sử dụng trong sản xuất công nghiệp của Việt Nam để cung cấp nhiệt, hơi nước và nước nóng cho cả ngành công nghiệp nhẹ và nặng. Trong khi đó, sinh khối (trấu, dăm gỗ, mùn cưa và viên gỗ) và điện, khí đốt, dầu hoặc than có thể được tận dụng để sản xuất hơi nước.

Theo ông Trần Văn Lượng, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học và Công nghệ Nhiệt Việt Nam, hiện có khoảng 9.000 nồi hơi công nghiệp đang được sử dụng ở Việt Nam. Than được sử dụng ở nhiều cơ sở để vận hành hệ thống lò hơi. Ông cho biết, việc chuyển đổi đầu vào than của các cơ sở này thành nguồn nhiên liệu sạch hơn có tiềm năng lớn để giảm lượng khí thải trên quy mô quốc gia. Trong những năm gần đây, ngành kinh doanh viên nén tại Việt Nam có sự tăng trưởng đáng kể, đặc biệt là viên nén gỗ. Các viên này được sản xuất bằng cách sử dụng các sản phẩm phụ thải từ ngành công nghiệp gỗ, bao gồm cành củi, ngọn cây, mùn cưa và vỏ bào. Khoảng 5 triệu tấn, tương đương 95% sản lượng bột viên sản xuất tại Việt Nam, được xuất khẩu, chủ yếu sang thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở những nước này, than hầu hết được thay thế bằng viên nhập khẩu làm nhiên liệu đầu vào cho sản xuất điện.

Hiện tại, mức sử dụng của Việt Nam chiếm khoảng 5% tổng sản lượng viên nén trong nước, chủ yếu trong hệ thống nồi hơi của các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ. Ông Lượng cho biết, bên cạnh những lợi thế của việc sử dụng viên nén, vẫn còn những trở ngại mà các doanh nghiệp phải vượt qua để chuyển đổi nồi hơi sang sinh khối. Những trở ngại này bao gồm việc thiếu các tiêu chuẩn và quỹ đầu tư cho việc chuyển đổi. Một trong những thách thức nữa là thị trường carbon trong nước chưa được hình thành nên chưa tạo động lực cho doanh nghiệp chuyển đổi, ông nói tại hội thảo.

Tô Xuân Phúc, từ Forest Trends, cho biết Chính phủ Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Thị trường trong nước còn rất nhiều tiềm năng cho việc sử dụng viên nén gỗ. Một số công ty xuất khẩu gỗ cho rằng khi nhu cầu tại Việt Nam bắt đầu tăng nhanh thì ngành viên gỗ sẽ có cơ hội phát triển thị trường. Cụ thể, vào năm 2024 và 2025, nhu cầu về viên ở Nhật Bản dự kiến sẽ tăng cao và có thể tăng gấp ba lần. Trong 2-3 năm tới, cung cầu mặt hàng này sẽ cân bằng nếu năng lực sản xuất của Việt Nam được giữ ở mức hiện tại. Mặc dù có tiềm năng xuất khẩu nhưng sản xuất viên nén gỗ vẫn gặp khó khăn trong việc kiểm soát sản lượng, chất lượng sản phẩm cũng như tình trạng thiếu nguyên liệu trong thời gian tới. Việt Nam xuất khẩu 4,6 triệu tấn viên gỗ vào năm 2023, trị giá khoảng 680 triệu USD.

Theo VNS

Admin

Cập nhật thị trường viên gỗ nén pellet EU

Bài trước

Tiềm năng cho lĩnh vực tín chỉ carbon tại Việt Nam

Bài sau

Bài viết tương tự

Bình luận

Trả lời bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được bảo mật. Các trường * là bắt buộc

Xem thêm Gỗ