Các mô hình chính sách nông nghiệp trên thế giới – Phần 3: Chính sách nông nghiệp khu vực châu Đại dương

0
Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Trợ cấp cho người sản xuất ở Úc đã liên tục giảm kể từ những năm 1980 và PSE của Úc ở mức thấp thứ nhì trong OECD. Tổng trợ cấp cho nông nghiệp chiếm 0,1% GDP trong những năm gần đây. Hỗ trợ dịch vụ chung (GSSE) chiếm phần lớn nhất trong tổng trợ cấp, trong đó các nhân tố chính được tài trợ là Hệ thống Kiến thức nông nghiệp và đổi mới và phát triển cơ sở hạ tầng, chiếm lần lượt 58% và 31% tổng chi cho GSSE.

Úc là một nhà sản xuất và xuất khẩu các hàng hóa nông sản quan trọng và là nước thặng dư xuất khẩu lớn ổn định. Kể từ những năm 1980, trợ cấp giá thị trường của quốc gia nhà cho các nhà sản xuất nông nghiệp đã bị loại bỏ dần và thay thế bằng các trợ cấp có mục tiêu hươn. Do thuế nhập khẩu sản phẩm nông sản và thực phẩm cũng rất thấp, ngành nông trại Úc hiện nay định hướng thị trường rất mạnh. Các cuộc cải cách dẫn tới giá nội địa ở mức ngang bằng với giá thế giới.

Ngày nay, chính sách nông nghiệp của Úc chủ yếu tập trung vào hỗ trợ nông dân quản lý một số rủi ro trong sản xuât.s Trong khi một nửa ngân sách cho nông nghiệp cũng được chi dùng vào hỗ trợ dịch vụ chung, bảo vệ môi trường, và các chương trình R&D, các công cụ chính sách chính để ngăn cản giảm thu nhập nghiêm trọng cho nông dân bao gồm trợ cấp thảm họa và giảm thuế.

Do nông dân Úc thỉnh thoảng phải đối mặt với các điều kiện thời tiết cực đoan (như gió lốc, cháy rừng, mưa đá, hạn hán và ngập lụt), các rủi ro này được nhận diện bởi nhiều chương trình hỗ trợ thảm họa khác nhau do chính quyền trung ương và địa phương triển khai.

Năm 2014, một số biện pháp hỗ trợ bổ sung được đưa ra thông qua Thỏa thuận liên bang về Cải cách chương trình hạn hán quốc gia (National Drought Program Reform) giữa chính quyền liên bang, các bang và các vùng lãnh thổ. Cách tiếp cận này thay thế các thỏa thuận hiện hữu về hạn hán và hiện tập trung vào các nguyên nhân khác nhau gây ra khó khăn tài chính cho nông dân. Cụ thể là, chương trình trợ cấp Hộ nông nghiệp (Farm Household Allowance program) được tạo ra để cung cấp trợ cấp thu nhập cho nông dân đã trải qua các khó khăn tài chính, bất kể nguyên nhân (không chỉ hạn chế với thảm họa tự nhiên). Đền bù theo chương trình này không phụ thuộc vào nguyên nhân nhưng phụ thuộc vào tình trạng tài chính của từng trang trại, vốn được xác định thông qua Đánh giá tài chính trang trại (Farm Financial Assessment).

Thỏa thuận liên chính phủ 2014 cũng nới rộng một số nhượng bộ về thuế cho người sản xuất nông nghiệp. Đầu tiên, và rất giống với những thứ chúng ta đang có ở Anh, nông dân Úc có thể bình quân hóa lợi nhuận trong 5 năm cho mục đích thuế. Lý lẽ của việc này là nó sẽ đặt hoạt động nông trại ngang bằng với những người trả thuế khác thường có thu nhập ổn định hơn.

Tiếp cận của nông dân với Cơ chế quản lý tiết kiệm trang trại (FMD_Farm Management Deposits Scheme) đã được cải thiện, đây là chương trình hướng tới làm giảm các biến động thu nhập và cải thiện an ninh tài chính dài hạn của nông dân. Đây về bản chất là một cơ chế tiết kiệm không chịu thuế, nhờ đó, trong những năm tốt, nông dân có thể lập tài khoản tiết kiệm FMD và có thể dùng cho những năm sau đó. Lượng tiền trong các tài khoản tiết kiệm này ít nhất là 700 $ và không vượt quá 285.000 $ và được miễn khỏi một số nghĩa vụ thuế.

Hơn thế nữa, Cơ chế cho vay tài chính hỗ trợ nông trại (Farm Finance Concessional Loans Scheme) được mở rộng, cung cấp các khoản vay hỗ trợ bổ sung với mức lãi suất được trợ cấp tại nhiều bang. Các khoản vay này có thể sử dụng để tái cơ cấu nợ, để tài trợ các chi phí hoạt động và để khôi phục sau hạn hán và các hoạt động chuẩn bị. Cuối cùng, khuyến khích thuế cũng được cung cấp để thúc đẩy đầu tư và các hệ thống sản xuất bền vững.

Năm 2014, chính phủ Úc chi 157 tỷ $ cho các chương trình hỗ trợ thiên tai và 308 triệu $ giảm trừ thuế và, cùng lúc, các chương trình này chiếm hơn một nửa tổng ngân sách chính sách nông nghiệp 830 tỷ $.

Lợi ích của chính sách kiểu Úc

Rất đơn giản. So sánh với sự phức tạp của các cách tiếp cận ở khu vực Bắc Mỹ mà chúng ta sẽ thảo luận bên dưới, Úc vỏ vẻ đang sử dụng một cách tiếp cận trực tiếp hơn, sử dụng các cơ sở sẵn có của hệ thống thuế để quản lý biến động thu nhập. Chi phí thấp. sau New Zealand, Úc có mức PSE thấp nhất trong số các nước OECD.

 

New Zealand

New Zealand là một trong vài quốc gia trong khối OECD và cả ngoài khối ngưng các hệ thống trợ cấp giá cho ngành nông nghiệp và thực hiện một chính sách tự do thương mại trong nông nghiệp. Bắt đầu từ năm 1984, các chương trình trợ cấp cho các sản phẩm nông nghiệp đã bị dừng lại hay kết thúc giai đoạn trong khuôn khổ của chương trình cải cách kinh tế chung. Tác động của chương trình là để nâng cao sản lượng trong ngành nông nghiệp nói riêng và khuyến khích tăng trưởng trong phần còn lại của nền kinh tế. Một số yếu tố dẫn trực tiếp đến việc bãi bỏ chứ không phải cải cách, nhưng có thể yếu tố lớn nhất là ý chí chính trị như là một phần của tái cấu trúc kinh tế nói chung để đáp ứng với bối cảnh kinh tế thế giới.

New Zealand là một ví dụ mà các quốc gia khác có thể theo dõi việc bãi bỏ điều tiết trong ngành nông nghiệp trong một khung tái cấu trúc kinh tế tổng thể. Mặc dù có một số vấn đề trong việc điều chỉnh ngắn hạn theo cơ chế mới, kinh nghiệm của New Zealand cho thấy người sản xuất nông nghiệp có thể điều chỉnh theo các điều kiện thị trường và giảm trợ cấp mà vẫn duy tri thu nhập ở mức hợp lý.

New Zealand là một nền kinh tế mở nhỏ với mức độ phụ thuộc khá cao vào thương mại quốc tế. Đây là quốc gia xuất khẩu ròng các sản phẩm nông nghiệp, với trên 50% lượng xuất khẩu từ ngành nông sản thực phẩm. Đây là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về cừu và các sản phẩm sữa. Tầm quan trọng của nông nghiệp cao hơn nhiều quốc gia OECD khác, chiếm 7% trong GDP và cả trong lực lượng lao động.

PSE của New Zealand hiện nay ở mức thấp nhất trong các quốc gia OECD. Rất ít chính sách ảnh hưởng đến sản xuất và thương mại nông nghiệp của New Zealand từ trước 1986 còn duy trì đến nay. Hầu hết giá nội địa tương ứng với giá thế giới và trợ cấp chỉ cung cấp cho việc kiểm soát dịch bệnh trên vật nuôi và giảm nhẹ các thảm họa tự nhiên và khí hậu quy mô lớn.

Khi có các thảm họa tự nhiên vượt ra ngoài khả năng ứng phó của các bảo hiểm tư nhân, nông dân có thể nhận được sự hỗ trợ hạn chế để tái lập năng lực sản xuất. trong trường hợp thảm họa thiên nhiên quy mô vừa hoặc lớn, nông dân có thu nhập giảm xuống dưới một ngưỡng nhất định có thể, trong một giai đoạn ngắn, có thể đủ tư cách để hưởng tương tự như trợ cấp thất nghiệp.

Các khung quốc gia về đất đai, chất lượng nước và phân bổ để đảm bảo việc quản lý bền vững các nguồn lực tự nhiên và sinh thái (hàng hóa công cộng). Theo các thiết lập hiện nay, Cơ chế mua bán phát thải (Emission Trading Scheme) sẽ được mở rộng  sang cả lĩnh vực nông nghiệp. Việc này sẽ mở rộng cơ chế dựa trên giá để làm giảm việc phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp.

Rất nhiều hoạt động, như nghiên cứu và phát triển thị trường, bảo hiểm chất lượng, và bảo vệ sức khỏe cây trồng và vật nuôi được tài trợ bởi thuế đánh vào người sản xuất. Các loại thuế này chỉ được thực hiện khi được nhà sản xuất ủng hộ, và chính các nhà sản xuất quyết định các khoản thuế này được chi ra sao. Với rất ít ngoại lệ, quỹ từ các khoản thuế này sẽ không được chi vào các hoạt động thương mại hoặc giao dịch. Các tổ thức quản lý thuế phải tìm một phương án ủy trị mới để thu thuế mỗi 6 năm thông qua trưng cầu ý kiến của người đóng thuế.

Kinh nghiệm học được từ cải cách nông nghiệp của New Zealand

Các cuộc cải cách của New Zealand cho thấy rằng thị trường nông nghiệp có thể tự điều chỉnh và nông dân không phải chịu toàn bộ chi phí của việc cải cách. Cụ thể, thị trường đất đai điều chỉnh với dòng doanh thu ròng dự kiến và giá trị đất sẽ tự tìm đúng mức giá thị trường.

Các chính sách cải cách của New Zealand giảm đáng kể chi phí can thiệp của chính phủ. Phúc lợi của nông dân, đo lường bằng dòng thu nhập, đã giảm đáng chú ý trong giai đoạn ngay sau khi cải cách được triển khai, nhưng trong giai đoạn 7 năm, các điều chỉnh cần thiết đã được thực hiện bằng lựa chọn của doanh nghiệp, mức sử dụng nguyên liệu đầu vào và đầu tư vốn. Thu nhập của các trang trại tăng lên trong năm 1988-1989.

Biến động tỷ giá hối đoái đã được chứng minh là yếu tố không dự báo được trong cuộc hồi phục và bất định gia tăng trong việc đưa ra các quyết định của cả nông dân và các tổ chức marketing. Bảo hiểm tỷ giá hối đoái kỳ hạn là cần thiết với tất cả các giao dịch quốc tế trong bối cảnh như vậy.

Ngành nông trại đã được hưởng lợi từ những cuộc cải cách phối hợp sau đó trong nền kinh tế. Sự hợp tác của nông dân trong các chương trình cải cách nông nghiệp được củng cố bởi các kế hoạch loại bỏ thuế nhập khẩu đầu vào tuy nhiên giảm thuế quan không diễn ra nhanh như việc loại bỏ trợ cấp nông nghiệp.

Các cuộc cải cách có tác động đáng kể tới các thị trường yếu tố sản xuất.

(Nguồn: tham khảo từ http://users.actrix.co.nz/simonjohnson/iea.pdf)

Các mô hình chính sách nông nghiệp trên thế giới – Phần 1: Các chính sách nông nghiệp hiện nay trên thế giới

Các mô hình chính sách nông nghiệp trên thế giới – Phần 2: Chính sách nông nghiệp khu vực Bắc Mỹ

Theo Horizon Market Intelligence – Hồng Kim dịch

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.
Share.

About Author

Leave A Reply