Các mô hình chính sách nông nghiệp trên thế giới – Phần 2: Chính sách nông nghiệp khu vực Bắc Mỹ

1
Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Trợ cấp cho nhà sản xuất ở Hoa Kỳ bằng khoảng một nửa mức trung bình của OECD, tương đương khoảng 0,5% GDP trong giai đoạn 2013-2015. Tỷ lệ giữa mức trợ cấp dựa trên sản lượng đầu ra và hỗ trợ dựa trên vật tư đầu vào sử dụng ở mức cao, 49% PSE. Tuy nhiên 38% trợ cấp dựa trên sản lượng đầu ra bị ảnh hưởng bởi các ràng buộc về bảo vệ môi trường tự nguyện.

20% mức trợ cấp PSE liên quan đến bảo hiểm nông trại và dựa trên sự chênh lệch giữa sản lượng theo dõi, năng suất hoặc doanh thu, và kế hoạch trồng trọt ở cấp độ từng trang trại hoặc từng vùng.

Mỹ là nhà xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp lớn nhất thế giới và có thị trường nội địa lớn với các sản phẩm này. Quốc gia này đã chuyển các chính sách nông nghiệp ra khỏi các cơ chế trợ cấp giá truyền thống với các luật Farm Bills 1985, 1990 và 1996, nhằm đáp ứng các yêu cầu của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Để bù đắp cho nông dân do giảm sút các trợ cấp thị trường, có động thái chuyển sang trợ cấp trực tiếp với Farm Bill 2002 và 2008, theo đó đưa ra các chương trình trợ cấp không theo chu kỳ. Kết quả là trợ cấp trực tiếp cố định trở thành nguồn hỗ trợ chính cho nông dân từ 1990 đến năm 2013.

Farm Bill 2014 phần nào dẫn tới một thay đổi nhỏ trong chính sách của Mỹ, kết thúc nhiều cơ chế trợ cấp trực tiếp, và với ngành trồng trọt, đưa bảo hiểm vào vị trí trung tâm. Bảo hiểm mùa vụ, tuy vậy, không phải là mới mẻ ở Hoa Kỳ và đã xuất hiện theo cách này hay cách khác trong suốt 30 năm qua. Tuy nhiên, nó vẫn còn nhỏ so với trợ cấp trực tiếp.

Trends-in-Crop-Insurance-by-type-300x214 Các mô hình chính sách nông nghiệp trên thế giới – Phần 2: Chính sách nông nghiệp khu vực Bắc Mỹ

Ban đầu, bảo hiểm mùa vụ dưới hình thức bảo hiểm tương quan trực tiếp tới năng suất. Tuy vậy, từ sau đó nhiều mô hình tinh tế hơn đã được phát triển để hỗ trợ nông dân bảo đảm dược doanh thu. Đồ thị bên trên cho thấy bảo hiểm mùa màng đã được triển khai ở Mỹ từ lúc nào, giữa bóng dáng của các cơ chế khác và cách thức xu hướng phát triển theo mô hình dựa trên thu nhập hình thành.

Cơ chế ARC (Bảo hiểm rủi ro nông nghiệp) là cơ chế bảo hiểm doanh thu chủ chốt trong ngành trồng trọt ở Mỹ. Bảo hiểm doanh thu chủ yếu sử dụng thu nhập bình quân trước đó làm ngưỡng tham chiếu. Nông dân có thể bảo đảm mức thu nhập như cũ cho năm tới. ARC sử dụng doanh thu bình quân trong 5 năm trước đó làm tham chiếu, và thông thường, đảm bảo 85% mức này cho năm tiếp theo.

Trong năm 2015, USDA công bố rằng chương trình “Whole Farm Revenue Protection” (WFRP) có thể được tiếp cận trên quy mô cả nước. Thay vì xem xét mỗi mặt hàng một lần, nhà sản xuất có thể có một cái tổ an toàn cho toàn bộ trang trại- đặc biệt là với những nhà sản xuất sản xuất một chuỗi đa dạng các loại sản phẩm.

Ngắn gọn, chính sách nông nghiệp của Mỹ sử dụng các bộ công cụ và dụng cụ khác nhau để ứng phó với biến động giá và thu nhập của người nông dân thay vì các công cụ có sẵn trong Chính sách nông nghiệp chung (CAP). Trong khi EU đưa ra trợ cấp trực tiếp để hỗ trợ thu nhập mà người nông dân nhận được cho sản phẩm của họ từ thị trường, Mỹ dừng hệ thống trợ cấp trực tiếp và hiện nay tập trung vào thu nhập thị trường, trong khi giảm rủi ro cho người nông dân bằng cách khuyến khích việc sử dụng bảo hiểm. Sự khác biệt này trở nên rõ ràng khi chúng ta nhìn vào tỷ trọng ương ứng của các công cụ khác nhau ở Mỹ và châu Âu: trong khi chính sách nông nghiệp Mỹ bao gồm ít nhất 60% công cụ bảo hiểm và không có trợ cấp trực tiếp, Chính sách nông nghiệp chung (CAP) chỉ bao gồm dưới 1% công cụ bảo hiểm và 60% trợ cấp thu nhập thông qua trợ cấp trực tiếp.

Ưu điểm và nhược điểm của chính sách kiểm Mỹ

 

Farm Bill năm 2014 của Mỹ rất tốn kém, với chi phí dự kiến trong giai đoạn 2014-2018 vào khoảng 489 tỷ USD, xấp xỉ 376 tỷ EUR.

Không giống tấm chăn trợ cấp trực tiếp, thanh toán bảo hiểm dĩ nhiên sẽ thay đổi theo năm và về bản chất là không dự đoán được. Điều này rõ ràng là một thách thức đối với việc quản lý ngân sách công, trừ phi các mức trần chi trả được đặt ra.

Đòi hỏi phải có thông tin đầy đủ và chính xác. Cung cấp bảo hiểm  cấp quốc gia, vùng, hạt và cuối cùng là trang trại phụ thuộc lớn vào dữ liệu để có thể thông tin tin cậy ngưỡng tham chiếu (lịch sử) là gì và để xác định khi nào có thể yêu cầu bồi thường. Trong một số cơ chế bảo hiểm của Mỹ, người nông dân ddwowccj yêu cầu cung cấp lịch sử Doanh thu/sản lượng thực tế. Điều này rất tốn thời gian của nhà sản xuất.

 

Khối lượng phí tổn ở cấp độ hỗ trợ trang trại là khá nhỏ khi xem xét rằng 79% ngân sách Farm Bill dự kiến được dành riêng cho “nuôi dưỡng”- các dịch vụ tương tác với công chúng cung cấp chương trình hỗ trợ và hoạt động đào tạo.  Điều này có nghĩa là trợ cấp cho trang trại, nghĩa là bảo vệ doanh thu là khá nhỏ, và do đó, sự biến động về nhu cầu tiền mặt theo cơ chế bảo hiểm có thể được hấp thụ một cách dễ dàng hơn.

Hợp tác công-tư mạnh: mặc dù các cơ chế kiểu bảo hiểm ở Mỹ được quy định và củng cố (chia sẻ rủi ro) bởi khu vực công nhưng việc thực hiện lại chủ yếu do khối tư nhân dẫn dắt. Vai trò của khu vực công và tư được xác định rất rõ ràng với các mối quan hệ công việc gần gũi. Hiện nay có 17 Nhà cung cấp bảo hiểm được cấp phép (AIPs) ở Mỹ.

 

Canada

Canada đã giảm trợ cấp nông nghiệp đáng kể từ những năm 1980. Đây chủ yếu là do việc dừng chương trình trợ cấp giá thị trường (MPS) trong ngành ngũ cốc. Canada vẫn còn chương trình MPS cho ngành sữa, gia cầm và trưc và chiếm đến 64% PSE trong giai đoạn 2013-2015. Mức trợ cấp thảm họa giảm trong những năm gần đây và chuyển sang chi ngân sách cho các hỗ trợ chung, chứ không cụ thể chung cho các trang trại kể từ giữa những năm 1990 và kết quả là giảm trợ cấp cho các trang trại.

Tính bình quân, mức giá nông dân nhận được cao hơn 7% trong giai đoạn 2013-2015 so với mức giá quan sát được trên thị trường thế giới. Chủ yếu là do MPS đối với sữa, gia cầm và trứng do giá hầu hết các hàng hóa khác hầu như khớp với giá biên mậu.

Canada cung cấp trợ cấp thông qua Khung chính sách “Going Forward 2”. Chương trình này hoạt động từ năm 2013 tới 2018 và là sáng kiến chung giữa chính phủ liên bang, chính phủ các hạt và vùng lãnh thổ.

“Các chương trình GF2 sẽ tập trung vào cải cách, cạnh tranh và phát triển thị trường để đảm bảo người sản xuất và chế biến Canada có công cụ và nguồn lực cần thiết để tiếp tục đổi mới và hiện thực hóa các cơ hội thị trường mới nổi”

Nông nghiệp và nông sản thực phẩm Canada

Dưới khung GF2, có một số chương trình hỗ trợ:

AgriInvest- Là một cơ chế tiết kiệm theo đó trong một giới hạn nào đó, chính phủ khớp nối các khoản tiết kiệm của nông dân. Cơ chế này được thiết kế để hỗ trợ nông dân đối mặt với sự sụt giảm thu nhập nhỏ.

AgriStability- Chương trình này được thiết kế để hỗ trợ người sản xuất Canada đối mặt với lợi nhuận giảm mạnh. Chương trình này thường đi vào triển khai khi lợi nhuận giảm xuống dưới 70% lợi nhuận tham khảo. Chương trình này rất giống với cơ chế bảo vệ doanh thu của Mỹ và dựa trên lịch sử 5 năm liên tục trước đó.

AgriInsurance- Các cơ chế này được thiết kế ở cấp độ các tỉnh và hướng tới hỗ trợ bảo vệ nông dân khỏi tác động của các thảm họa tự nhiên.

AgriRecovery- Điều này cần phải được coi là một khung tiến trình hơn là một cơ chế cụ thể. Khung này về cơ bản là cung cấp các biện pháp cứu trợ thảm họa gây ra các chi phí bất thường cho người sản xuất.  Cách tiếp cận này phụ thuộc vào việc chính quyền địa phương công bố đâu là “thảm họa”.

Ưu điểm và nhược điểm của chính sách kiểu Canada

Trong 5 năm qua, 3 tỷ $ đã được chi cho ngành nông nghiệp. Hai phần ba số đó rót vào các chương trình ổn định để hỗ trợ thu nhập của các trang trại.

Hơn thế nữa, bằng chứng là các chương trình của Canada có tác động rất nhỏ đến sản lượng, nhưng nguyên liệu đầu vào phân bón và hóa chất sử dụng có thể cao hơn so với việc không có chương trình.

Trong khi các chương trình tuân thủ chéo (cross compliance*) có thể được xem xét trong bối cảnh Canada, các chính sách nhắm trực tiếp tới các vấn đề môi trường cụ thể trong nông nghiệp có thể có tác động lớn hơn

Mức độ hỗ trợ này có thể làm nảy sinh các câu hỏi về hậu quả môi trường của việc củng cố sản lượng nông nghiệp. Chi tiêu của chính phủ Canada cho các sáng kiến môi trường  trong nông nghiệp, tính theo tỷ lệ thu nhập của trang trại, ít hơn 10 lần so với ở Mỹ và châu Âu.

 

*Cross-compliance là cơ chế liên quan tới việc trợ cấp trực tiếp với việc tuân thủ của nông dân với các tiêu chuẩn cơ bản về môi trường, an toàn thực phẩm, sức khỏe và phúc lợi của động vật và cây trồng, cũng như yêu cầu về việc duy trì đất đai trong điều kiện nông nghiệp và môi trường tốt.  

Theo Horizon Market Intelligence – Hồng Kim dịch

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.
Share.

About Author